Hiển thị các bài đăng có nhãn tin-khoa-hoc-doi-song. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin-khoa-hoc-doi-song. Hiển thị tất cả bài đăng
Đặc điểm và tính năng của tủ lạnh y tế
Tủ
lạnh y tế, tủ lạnh chuyên dụng trong các phòng thí nghiệm (trong bài viết này
xin được gọi là tủ lạnh chuyên dụng) thường có giá cao hơn rất nhiều so với tủ
lạnh dân dụng. Vậy đâu là điểm khác biệt? Các đơn vị y tế và nghiên cứu có thật
sự cần thiết trả thêm chi phí để trang bị tủ lạnh chuyên dụng???
Tủ lạnh chuyên dụng
bao gồm các loại sau: tủ đông, tủ mát, tủ
đông-mát kết hợp; tủ ở dạng đứng hoặc tủ nằm. Thường được sử dụng cho mục đích
lưu trữ vaccine, máu, DNA/RNA, enzyme và thuốc thử sinh hóa, chủng vi sinh, tế
bào… (xem thêm: Tủ
lạnh bảo quản mẫu)
Các
nghiên cứu của NIST (Viện tiêu chuẩn và kỹ thuật Quốc gia Hoa Kỳ) đã chỉ ra rằng
tủ lạnh dân dụng có khả năng duy trì nhiệt độ kém hơn nhiều so với tủ lạnh
chuyên dụng. Với Vaccine và nhiều sinh phẩm khác, việc bảo quản trong điều kiện
nhiệt độ không ổn định rất dễ gây ra tình trạng hư hỏng, không thể sử dụng được
nữa. Do đó, đây cũng là điểm quan trọng mấu chốt để lựa chọn một tủ lạnh chuyên
dụng.
Dưới đây là những lý do
khiến tủ lạnh chuyên dụng có độ chính xác và ổn định nhiệt độ cao hơn tủ lạnh
dân dụng:
-
Tủ lạnh chuyên dụng sử dụng
hệ thống điều khiển nhiệt độ tiên tiến cho phép điều khiển nhiệt độ chính xác
hơn.
-
Với những tủ lạnh chuyên
dụng có nhiều ngăn với dải nhiệt độ riêng biệt chúng thường sử dụng từ 2 máy
nén trở lên trong khi tủ lạnh dân dụng chỉ dùng 1 máy nén cho cả 2 chức năng nhằm
mục đích giảm con số trong hóa đơn tiền điện.
-
Cũng vì lý do tiết kiệm
điện nên tủ lạnh dân dụng thường có công suất nhỏ. Tủ lạnh chuyên dụng có công
suất lớn hơn đảm bảo hiệu quả làm lạnh tốt hơn. Điều này không có nghĩa là công
suất của tủ lạnh chuyên dụng luôn cao hơn so với tủ lạnh dân dụng cùng dung
tích và dải nhiệt độ mà công suất còn tùy thuộc vào những tính năng và thiết kế
khác. Các hãng sản xuất tủ lạnh chuyên dụng cũng luôn ưu tiên thiết kế hệ thống
làm lạnh đủ công suất, đạt hiệu quả mà vẫn không tiêu thụ quá nhiều điện năng.
-
Tủ lạnh dân dụng thường thường
có khu vực lưu trữ trên cửa nhằm tăng khả năng lưu trữ nhưng đồng thời các vật
phẩm được lưu trữ những khu vực này cũng chịu sự biến động nhiệt độ đáng kể so
với các khu vực bên trong tủ. Tủ lạnh chuyên dụng không thiết kế bất cứ khu vực
lưu trữ nào trên cửa.
-
Giá đỡ của tủ lạnh chuyên
dụng thường được thiết kế dạng lưới hoặc khay kim loại cho phép khí lạnh lưu
thông tốt hơn đem lại sự đồng đều nhiệt độ ở bên trong tủ cao hơn.
-
Thành tủ được thiết kế với
độ dày nhỏ nhất có thể mà vẫn đảm bảo hiệu quả cách nhiệt cao hơn tủ lạnh dân dụng.
-
Tủ lạnh chuyên dụng, đặc
biệt là những dòng tủ lạnh nhiệt độ cực thấp thường trang bị nhiều lớp cửa, cửa
trong đôi khi nhiều cánh hơn cửa ngoài để giảm thất thoát nhiệt độ, đặc biệt là
khi mở cửa.
-
Cửa kính là một trong những
thiết kế nổi bật của tủ lạnh chuyên dụng, cho phép người sử dụng quan sát và định
vị mẫu vật phẩm họ muốn trước khi mở cửa. Điều này làm cho thời gian mở cửa ít
hơn cũng giúp duy trì sự ổn định nhiệt độ.
Những đặc điểm và tính
năng khác của tủ lạnh chuyên dụng:
-
Được sản xuất từ các
thành phần (vật liệu) cứng chắc hơn, độ bền cao hơn và ít xảy ra lỗi.
-
Không quá chú tâm đến
tính thẩm mỹ mà ưu tiên thiết kế hiệu quả, dễ dàng vệ sinh
-
Được trang bị hệ thống cảnh
báo khi cửa mở và khi nhiệt độ thực tế cao/thấp hơn nhiệt độ cài đặt.
-
Được trang bị hệ thống
ghi nhiệt độ để theo dõi nhiệt độ của tủ.
-
Bảng điều khiển giúp cài
đặt nhiệt độ với màn hình hiển thị thông số và báo lỗi.
-
Khóa cửa và khóa bảng điều
khiển giúp ngăn cản sự truy cập trái phép.
-
Khả năng kết nối từ xa với
người dùng.
Ngày
nay, nhiều hãng sản xuất tủ lạnh danh tiếng đã cho ra đời nhiều dòng sản phẩm tủ
lạnh dân dụng chất lượng cao với nhiều tính năng nổi trội nhưng những dòng tủ lạnh
này vẫn không thể thay thế được tủ lạnh chuyên dụng vì nó không hướng đến mục
đích cao cấp của một chiếc tủ lạnh chuyên dụng đó là đảm bảo độ chính xác và ổn
định nhiệt độ.
Trên
đây là những điểm làm nên sự khác biệt giữa tủ lạnh chuyên dụng và tủ lạnh dân
dụng. Tóm lại sự đáng giá của tủ lạnh chuyên dụng nằm ở độ chính xác, độ ổn định và độ bền cao.
Bạn
đọc có ý kiến hoặc có nhu cầu tư vấn thêm về các dòng tủ lạnh chuyên dụng vui
lòng liên hệ.
Sai lệch kết quả thí nghiệm do cá từ đã sử dụng lâu
Sử dụng cá từ không còn nguyên vẹn có thể làm sai lệch kết quả thí nghiệm.
Máy khuấy từ là một loại thiết bị rất thông dụng trong
các phòng thí nghiệm. Chúng hoạt động dựa trên nguyên tắc sử dụng lực từ trường
để khuấy các dung dịch.
Khi sử dụng, bình dung dịch được đặt trên bề mặt máy
khuấy và bên trong bình được đặt một thanh nam châm gọi là cá từ. Máy khuấy từ dùng
lực từ trường để làm quay tròn thanh cá từ, từ đó khuấy đảo dung dịch. Lớp bọc
cá từ có tính trơ, khó bị ăn mòn, thường là Polytetrafloetylen (PTFE) là một chất
có nhiều ứng dụng công nghiệp, điển hình nhất của công thức dựa trên chất này
là Teflon.
Cá từ thường được sử dụng trong nhiều tháng hoặc nhiều
năm. Valentine P. Ananikov và các đồng nghiệp của ông tại Viện Hóa học hữu cơ
Zelinsky ở Moscow đã quét các thanh cá từ bằng kính hiển vi điện tử để nghiên cứu
sự ảnh hưởng trong thời gian dài sử dụng. Họ phát hiện ra rằng các lớp phủ PTFE
đã phát triển các vết nứt, vết lõm và vết trầy xước. Tệ hơn nữa, những hư tổn
đó đã bẫy các nguyên tử kim loại và mang chúng từ thí nghiệm này sang thí nghiệm
khác.
Thường xuyên vệ sinh các thanh cá từ cũng không giúp
ngăn ngừa sự ảnh hưởng. Các nhà nghiên cứu đã xem xét 60 thanh cá từ từ các
phòng thí nghiệm khác nhau và chỉ tìm thấy một thanh không bị nhiễm bẩn. Các chất
gây nhiễm thường gặp là palladi, bạch kim và vàng, tất cả đều có thể đóng vai
trò là chất xúc tác để tăng tốc độ phản ứng hóa học.
Trong các thử nghiệm, các thanh cá từ hoàn toàn mới
không ảnh hưởng đến các phản ứng, nhưng các thanh cá từ đã được sử dụng có tác
dụng không thể đoán trước có thể phụ thuộc vào bản chất và lượng ô nhiễm. Các
tác giả khuyên nên sử dụng các thanh cá từ còn mới nguyên để có kết quả thí
nghiệm tốt nhất, đặc biệt đối với các thí nghiệm quan trọng.
Nguồn
bài báo:
https://pubs.acs.org/doi/pdf/10.1021/acscatal.9b00294
Uống trà xanh giúp cải thiện trí nhớ và ngăn ngừa béo phì
Thành phần của trà xanh có thể cải thiện sự suy giảm trí nhớ và béo phì
Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí FASEB (Federation of American Societies
for Experimental Biology), thí nghiệm trên chuột cho thấy EGCG
(epigallocatechin-3-gallate), một loại catechin và hoạt chất sinh học phong phú
nhất trong trà xanh, có thể làm giảm tác động lượng chất béo và fructose
cao – cảm ứng kháng insulin và suy giảm trí nhớ. Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra
tiềm năng của EGCG để điều trị nhiều bệnh ở người, nhưng cho đến nay, tác động
của EGCG đối với sự kháng insulin và suy giảm trí nhớ được kích hoạt trong não
bằng chế độ ăn phương Tây vẫn chưa rõ ràng.
“Trà xanh là thức uống được tiêu thụ nhiều thứ hai trên
thế giới, chỉ sau nước, và được trồng ở ít nhất 30 quốc gia” theo Tiến sĩ Xuebo
Liu, một nhà nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học và Kỹ thuật Thực phẩm, Đại
học Tây Bắc A & F, Yangling, Trung Quốc. “Thói quen uống trà xanh xa xưa có
thể là một giải pháp y học thay thế có thể chấp nhận được đối với việc chống lại
bệnh béo phì, kháng insulin và suy giảm trí nhớ.”
Liu và các đồng nghiệp đã chia chuột đực 3 tháng tuổi thành
ba nhóm dựa trên chế độ ăn uống:
1/ Một nhóm đối chứng được cho ăn theo chế độ ăn tiêu chuẩn,
2/ Một nhóm được cho ăn với chế độ ăn giàu chất béo và đường
fructose (HFFD),
3/ Một nhóm được cho ăn với chế độ ăn HFFD và uống EGCG nồng
độ 2 gam/lít.
Trong 16 tuần, các nhà nghiên cứu đã theo dõi những con
chuột thí nghiệm và thấy rằng những con chuột được cho ăn chế độ ăn HFFD có trọng
lượng cơ thể cao hơn so với chuột đối chứng và cao hơn đáng kể so với chuột có
chế độ ăn HFFD + EGCG. Khi thực hiện kiểm tra mê cung nước Morris (Morris water
maze test) các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng chuột trong nhóm HFFD mất
nhiều thời gian hơn để tìm ra bục cạn so với chuột trong nhóm đối chứng. Nhóm
HFFD + EGCG có thời gian thoát khỏi tình trạng ngập trong nước thấp hơn đáng kể
và cách biệt với nhóm HFFD sau mỗi ngày thử nghiệm. Khi bục cạn được lấy ra để
thực hiện một thử nghiệm thăm dò, chuột ở chế độn ăn HFFD dành ít thời gian hơn
ở góc phần tư mục tiêu (vùng chứa bục cạn trước đó) khi so sánh với chuột đối
chứng, với số lần đi qua vị trí bục ít hơn. Nhóm HFFD + EGCG có sự gia tăng
đáng kể về thời gian trung bình ở phần tư mục tiêu và có số lần đi qua vị trí bục
lớn hơn. Điều này cho thấy EGCG có thể cải
thiện sự suy giảm trí nhớ do HFFD gây ra.
Mê cung nước Morris (Hình: Internet)
Tiến sĩ Thoru Pederson, Tổng biên tập của Tạp chí FASEB
nói rằng nghiên cứu này đã cũng cố và làm tiền đề cho nhiều đề tài nghiên cứu
và tin tức khoa học khác.
Người dịch: Nguyễn Đức Toàn
Nguồn bài viết: https://www.sciencedaily.com/releases/2017/07/170728100933.htm
Biến đổi khí hậu có thể làm giá bia tăng gấp đôi
Biến đổi khí hậu có thể làm giá bia tăng gấp đôi!
Người uống bia có thể trả nhiều tiền hơn và tìm thấy ít đồ
uống ưa thích hơn vì biến đổi khí hậu tác động đến lúa mạch. Các nhà khoa học cho
rằng hạn hán khắc nghiệt và những đợt nóng lên sẽ trở nên thường xuyên và dữ dội
hơn ở những vùng trồng ngũ cốc.
Nhiều nông dân đã thích nghi với sự nóng lên từ từ của
Trái Đất - với kỹ thuật nhân giống cây trồng tiên tiến có thể tạo ra nhiều giống
cây chịu hạn hơn, và bằng cách sử dụng các hệ thống thủy lợi hiệu quả hơn để bảo
tồn nước, nhưng một nghiên cứu mới trên tạp chí Nature Plants cho biết rằng nhiều
vùng sẽ không thể đối phó với các điều kiện khô cằn trong tương lai. Nghiên cứu
được thực hiện bởi một nhóm các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc cùng với Steven J.
Davis, một nhà khoa học môi trường tại Đại học California Irvine.
Nhóm nghiên cứu đã quan sát các khu vực trồng lúa mạch
trên thế giới, dựa vào mô hình hoạt động kinh tế và biến đổi khí hậu, nhóm
nghiên cứu đã dự đoán điều gì sẽ xảy ra với ngành sản xuất lúa mạch, cũng như
giá cả và sự tiêu thụ bia.
Trong các điều kiện khí hậu khắc nghiệt nhất, nghiên cứu
dự đoán rằng lượng bia tiêu thụ toàn cầu sẽ giảm 16%, tương đương với tổng tiêu
thụ bia hàng năm của Hoa Kỳ trong năm 2011. Và báo hiệu rằng giá bia trung bình
sẽ tăng gấp đôi. Mỗi quốc gia sẽ bị ảnh hưởng khác nhau. Ví dụ, giá của một panh
(0,47 lít) bia ở Ireland, sẽ tăng thêm 4,84 đô la, tiếp theo là 4,52 đô la ở Ý
và 4,34 đô la ở Canada. Nghiên cứu cho biết, người nghiện bia rượu Mỹ sẽ thấy giá bia
tăng lên đến 1,94 đô la và nông dân trồng lúa mạch sẽ xuất khẩu cho các quốc
gia khác nhiều hơn.
Tác động của biến đổi khí hậu đã được cảm nhận bởi các
nhà sản xuất bia thủ công, theo lời Katie Wallace, giám đốc trách nhiệm xã hội
và môi trường tại Nhà máy bia New Belgium ở Fort Collins, Colorado. Trong năm
2014, khu vực trồng lúa mạch của Mỹ - Montana, North Dakota và Idaho – gặp phải
một mùa đông cực kỳ ẩm ướt và ấm làm cho cây trồng nảy mầm sớm buộc nông dân phải
khai thác dự trữ trong kho. Khí hậu trở nên khắc nghiệt khiến cho lúa mạch trở
thành một mặt hàng xa xỉ.
Trong năm 2017 và một lần nữa trong mùa hè vừa qua, vùng
Tây Bắc Thái Bình Dương bị ảnh hưởng bởi hạn hán nghiêm trọng ảnh hưởng đến việc
sản xuất hoa bia mang đến hương vị độc đáo cho các sản phẩm bia thủ công.
Wallace nói rằng biến đổi khí hậu trong tâm trí của tất cả các nhà sản xuất bia
thủ công đó là kế hoạch làm thế nào để tránh tình trạng thiếu hụt cả lúa mạch
và hoa bia trong tương lai. “Nó căng thẳng” Newman nói. “Chúng tôi đang thấy mức
độ dễ bị tổn hại gia tăng và đã thoát khỏi một số trường hợp gần đây. Tất cả những
điều này đã xảy ra định kỳ, nhưng tần suất đang tăng lên.
Ngành công nghiệp bia thủ công đã lên kế hoạch cho tương
lai, theo lời Chris Swersey, một chuyên gia chuỗi cung ứng tại Hiệp hội Brewer,
một nhóm thương mại đại diện cho 4.500 nhà máy bia nhỏ trên toàn nước Mỹ.
Swersey cho biết ông hoài nghi về những phát hiện của bài báo, chủ yếu là vì bài
báo giả định rằng số lượng và vị trí sản xuất lúa mạch sẽ giữ nguyên như ngày
nay. Ông nói rằng việc trồng lúa mạch đã tiến về phía bắc đến Canada, trong khi
các nhà nghiên cứu đang hy vọng sẽ mở rộng phạm vi lúa mạch với các giống lúa mùa
đông.
Không chỉ những
con người “nhỏ bé” mới nghĩ đến biến đổi khí hậu. Budweiser, vẫn là vua sản xuất
bia của Mỹ sản xuất các thương hiệu bán chạy nhất số 1 (Bud Light) và số 3
(Budweiser). Budweiser mua lúa mạch từ một mạng lưới rộng lớn nông dân ở miền bắc
nước Mỹ và đang đầu tư vào các giống lúa mạch chịu hạn mới, theo Jessica
Newman, giám đốc nông học của Budweiser. “Việc nhận được các giống phù hợp, nhận
được sự pha trộn đúng, và nhận được công nghệ phù hợp cho nông dân của chúng
tôi đó là tất cả” Newman nói từ văn phòng của cô ở Idaho Falls, Idaho.
Cô cho biết phòng thí nghiệm khoa học cây trồng của
Budweiser ở Colorado đang nghiên cứu các giống lúa mạch mới có tên là Voyager,
Merit 57 và Growler. “Chúng tôi đang nhân giống cho khả năng chịu hạn và khả
năng kháng nảy mầm,” Newman nói. “Nếu chúng ta thấy mưa đến sớm hơn, hoặc nếu trời
mưa vào thời điểm nào trong năm, thì lúa mạch có thể nảy mầm và nó sẽ không được
sử dụng. Chúng tôi cũng muốn nó sử dụng ít nước hơn và ít hóa chất nông nghiệp
hơn.”
Davis cho biết ông và các cộng sự đã viết nghiên cứu này
như một bài tập tư tưởng để có thể nói chuyện về cách biến đổi khí hậu ảnh hưởng
đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta như thế nào. “Một bài báo về bia có vẻ hơi
phù phiếm khi nó đối phó với một chủ đề đặt ra các mối đe dọa về sự tồn vong” Davis
nói. “Nhưng một số người trong chúng ta có một tình yêu đối với bia và
nghĩ rằng điều này có thể là thú vị.” Biến đổi khí hậu sẽ không chỉ làm thay đổi
thời tiết; nó cũng sẽ tác động đến các tạp hóa và sở thích của chúng ta.
Người dịch: Nguyễn Đức Toàn
Loài ong "biến mất" khi nhật thực toàn phần
Loài ong "biến mất" khi nhật thực toàn phần
Trong một nghiên cứu chưa từng có trước đây về ảnh hưởng của nhật thực toàn phần đối với hành vi của loài ong. Các nhà nghiên cứu đã tổ chức tập hợp các nhà khoa học và học sinh tiểu học thiết lập các trạm giám sát âm thanh để theo dõi tiếng động loài ong. Và kết quả đã rõ ràng và nhất quán: Ong ngừng bay trong thời gian diễn ra nhật thực toàn phần trên khắp Hoa Kỳ.
Vào
ngày 21 tháng 8 năm 2017, trong khi hàng triệu người Mỹ đã nghỉ ngơi như thường
lệ để chứng kiến Nhật thực toàn phần, họ có thể không nhận ra một hiện tượng kỳ
lạ đang xảy ra gần đó. Trên tất cả con đường, ong cũng đang nghỉ ngơi.
Trong
một nghiên cứu chưa từng có trước đây về ảnh hưởng của nhật thực toàn phần đối
với hành vi của loài ong. Các nhà nghiên cứu đã tổ chức tập hợp các nhà khoa học
và học sinh tiểu học thiết lập các trạm giám sát âm thanh để theo dõi tiếng động
loài ong trong nhật thực toàn phần 2017 vừa qua. Kết quả được công bố vào ngày
10 tháng 10 trên Annals of the Entomological Society of America. Kết
quả đã rõ ràng và nhất quán trên khắp Hoa Kỳ: Ong ngừng bay trong khi diễn ra
Nhật thực toàn phần.
Cô Candace
Galen, Giáo sư, tiến sĩ khoa học sinh học tại trường đại học Missouri và
là trưởng nhóm nghiên cứu này cho biết: “Chúng tôi dự đoán dựa trên
các tài liệu, hoạt động của ong sẽ giảm khi ánh sáng mờ đi trong nhật thực
và sẽ đạt đến mức tối thiểu. "Nhưng, chúng tôi đã không ngờ rằng sự
thay đổi lại đột ngột như vậy, ong vẫn tiếp tục bay lên sau đó toàn bộ dừng lại
hoàn toàn giống như 'tắt đèn' tại trại hè! Điều đó làm chúng tôi ngạc
nhiên."
Galen
nói nhiều người đã hỏi bà rằng các loài động vật thường làm gì khi diễn ra nhật
thực toàn phần. Vài nghiên cứu chính thức đã từng kiểm tra hành vi của côn
trùng, đặc biệt trong nhật thực, tuy nhiên không ai chú ý đến ong. Galen
và các đồng nghiệp, trong lúc đó đã thử nghiệm thực địa một hệ thống để theo
dõi hoạt động thụ phấn của ong từ xa bằng cách lắng nghe tiếng kêu của chúng
trong các bản ghi âm.
"Nó
có vẻ hoàn toàn phù hợp," Galen nói. "Các micro nhỏ và cảm biến
nhiệt độ có thể được đặt gần hoa nhiều giờ trước khi nhật thực, để chúng tôi tự
do đeo kính yêu thích và tận hưởng chương trình."
Được
tài trợ bởi Hiệp hội Thiên văn học Mỹ, dự án đã thu hút hơn 400 người tham gia
- bao gồm các nhà khoa học, giáo viên, học sinh tiểu học và công chúng - trong
việc thiết lập 16 trạm theo dõi trên toàn bộ con đường ở Oregon, Idaho và
Missouri. Tại mỗi địa điểm, micro USB nhỏ được buộc gần hoa mà ong thụ phấn
ở xa khu vực người và phương tiện giao thông qua lại. Ở một số địa điểm,
còn thu thập dữ liệu về ánh sáng và nhiệt độ. Sau đó, những người tham gia
đã gửi các thiết bị đến phòng thí nghiệm của Galen, nơi các bản ghi được khớp với
thời gian nhật thực từ mỗi địa điểm và phân tích số lượng và thời gian của các
tiếng ong bay. Các bản ghi âm không cho phép phân biệt giữa các loài ong,
nhưng các quan sát của người tham gia cho thấy hầu hết các loài ong được theo
dõi là ong nghệ (chi Bombus) hoặc ong mật (Apis mellifera).
![]() |
| Các địa điểm khảo sát (hình từ bài nghiên cứu) |
Các
dữ liệu cho thấy rằng ong vẫn hoạt động trong pha nhật thực một phần cả trước
và sau pha toàn phần, nhưng về cơ bản ong đã ngừng bay trong giai đoạn nhật thực
toàn phần. (Chỉ một tiếng ong bay được ghi lại trong toàn bộ 16 vị trí
giám sát.)
Ong
thường bay chậm hơn vào lúc hoàng hôn và trở về tổ của chúng vào ban đêm, và do
đó hành vi tương tự được tạo ra bởi nhật thực cung cấp bằng chứng về cách chúng
phản ứng với các dấu hiệu môi trường khi những tín hiệu đó xảy ra bất ngờ.
"Nhật
thực cho chúng tôi cơ hội để hỏi liệu bối cảnh môi trường lạ thường giữa ban
ngày có làm thay đổi phản ứng hành vi của ong đối với ánh sáng mờ
và bóng tối. Như chúng ta đã thấy, bóng tối hoàn toàn gợi ra hành vi tương tự ở
ong, bất kể thời gian hay bối cảnh. Và đó là thông tin mới về nhận thức của
ong," Galen nói.
Nhật
thực toàn phần ở Bắc Mỹ sắp tới sẽ diễn ra vào ngày 8 tháng 4 năm 2024. Galen
cho biết nhóm của cô đang phát triển phần mềm phân tích âm thanh để phân biệt
hành vi bay lượn của ong khi chúng rời khỏi hay trở về tổ của chúng. Cô hy vọng
sẽ trả lời được câu hỏi liệu ong có trở về tổ khi "ánh sáng tắt" vào
nhật thực toàn phần năm 2024 hay không.
Có
thể sẽ không khó để tìm các nhà khoa học và sinh viên sẵn sàng giúp đỡ một lần
nữa.
"Nhật
thực toàn phần là một thành công tập thể, và đó là niềm vui lớn để thúc đẩy
nghiên cứu ong đến với làn sóng nhiệt tình" Galen nói.
Người
dịch: Nguyễn Đức Toàn
Nguồn
bài viết: https://www.sciencedaily.com/releases/2018/10/181010105542.htm















